Hiển thị các bài đăng có nhãn Từ điển Betta. Hiển thị tất cả bài đăng
Phân biệt các dòng cá plakat
Nội dung về các dòng cá plakat trên diễn đàn
khá phong phú qua hàng loạt bài viết của nhiều tác giả khác nhau. Xin được liệt
kê như dưới đây:
- Plakat cảnh hiện đại (Victoria Parnell)
- Halfmoon Plakat (Lyon Goh)
- Plakat cảnh truyền thống (Chris Yew)
- Bộ tam plakat (Joep van Esch)
- Tiêu chuẩn của IBC về plakat
Plakat cảnh truyền thống
Tác giả Chris Yew (www.guppiesonli.com)
Cho đến tận bây giờ cũng chưa có một định
nghĩa rõ ràng về thể loại Plakat cảnh truyền thống (Traditional Show Plakat).
Cũng không hề có bất kỳ tiêu chí đánh giá nào về Plakat cảnh cũng như Plakat cảnh
truyền thống.
Tag :
Từ điển Betta
Bộ tam plakat
Bộ tam plakat
Tác giả Joep van Esch
Định nghĩa về cá đuôi tưa chất lượng
Sản phẩm mới 05/2012
|
|
| www.hocamini.com/
Với mục đích trưng bày thể loại cá đuôi tưa,
cá đuôi tưa được định nghĩa là cá có màng vây triệt thoái tối thiểu 33% khỏi
các tia vây trên tất cả các vây chính (gồm đuôi, vây lưng và vây hậu môn). Yêu
cầu này là bắt buộc đối với tất cả các vây chính nhưng không bắt buộc đối với tất
cả các tia vây để đạt yêu cầu tối thiểu của thể loại đuôi tưa. Trên tạp chí
Flare! số tháng 3 và 4 năm 2004, Uỷ ban trọng tài của IBC đã ban hành các tiêu
chuẩn mới liên quan đến việc đánh giá về cá đuôi tưa. Nên nhớ rằng những tiêu
chuẩn đánh giá trên chỉ áp dụng đối với cá đuôi tưa đực, còn cá đuôi tưa cái được
đánh giá theo tiêu chuẩn về màu sắc dựa trên màu sắc của chúng.
|
Sự hình thành dòng cá đuôi tưa
Tác giả Victoria Parnell - nguồn www.bettas4all.nl
Từ cá đuôi răng cưa phát triển thành cá đuôi tưa - hai tia đôi (DDR) – Cá đuôi tưa đã hình thành như thế nào?
Như thế nào là một chú cá đuôi kép chất lượng?
Tất cả chúng ta đều có khái niệm như thế nào
là một con cá betta đẹp nhưng mục đích của bài viết này là để giới thiệu về các
tiêu chuẩn chấm điểm của IBC (chương 5). Nên nhớ rằng với một con cá có bề
ngoài lý tưởng, dù là đuôi đơn hay đuôi kép, ba vây lẻ sẽ làm thành một đường
liền lạc mà không hề có khe hở.
Giới thiệu Betta đuôi kép (doubletail)
Tác giả Victoria Parnell - nguồn
www.bettysplendens.com
Cá đuôi kép là một đối tượng được yêu thích từ
khi chúng bắt đầu xuất hiện trong thế giới cá betta. Cá đuôi kép, như tên của
chúng, có hai thuỳ đuôi phân lập. Chúng không phân ra hai bên như cá vàng mà
theo kiểu trên - dưới. Hơn nữa, vây lưng của chúng dài hơn, thân cũng ngắn và mập
hơn cá đuôi đơn bình thường vì điều này giúp chúng nâng đỡ bộ vây đặc biệt được
tốt hơn.
Tag :
Từ điển Betta
Câu chuyện thực sự về cá Halfmoon
Theo lời kể của Rajiv Masillamoni
“Ngài G.” vĩ đại. Ảnh này được Rajiv luôn
mang theo bên mình để so sánh xem có con betta nào đẹp bằng nó không (ảnh Peter
Goettner).
Vào năm 1982, nhà lai tạo người Mỹ Peter
Goettner lai tạo được một con cá tiến xa so với thời đại của nó. Đó là một con
cá betta xanh lục đuôi đơn với góc đuôi xoè gần đạt 180 độ và nó được cộng đồng
nuôi cá betta hâm mộ đặt cho biệt danh là “Ngài vĩ đại”. Goettner tiết lộ rằng
ông mua cá giống mà từ đó tạo ra “Ngài vĩ đại” (sau này được gọi là “Ngài G.”) từ
một nhà lai tạo người Mỹ khác, Parris Jones, người đã cải tạo dòng cá của mình
từ cá giống của một nhà lai tạo người Mỹ khác nữa, Chuck Hale, vào năm 1977.
Khoảng từ năm 1983 đến năm 1986, một nhóm các nhà lai tạo người Pháp trong đó
có Guy Delaval đã nhập khẩu cá giống từ những nhà lai tạo danh tiếng ở Mỹ như
Goettner và Jones.
Giới thiệu về cấu tạo vây của dòng Halfmoon
(Ads-Sản phẩm độc tháng 5)
Mua ngay: hocamini.co.cc
Mua ngay: hocamini.co.cc
(Ads-Sản phẩm độc tháng 5)
Mua ngay: hocamini.co.cc
Tác giả TK Lee (Malaysian HM group) - nguồn
www.bettas4all.nl
Cạnh đuôi và góc đuôi
Con cá bạch tạng này có cạnh đuôi dài và thẳng.
X là cạnh trên và Y là cạnh dưới. Góc giữa cạnh X và cạnh Y là góc đuôi hay góc
xoè.
Đuôi của HM (Halfmoon) có hai đặc điểm quan
trọng:
1. Các cạnh đuôi thẳng và dài.
2. Góc xoè 180 độ.
Với HM bạn có thể kẻ một đường thẳng XY dọc
theo hai cạnh đuôi. Điều này chỉ có thể thực hiện nếu các cạnh thật thẳng và
làm thành một góc 180 độ.
Vây đuôi, vây lưng và vây hậu môn phải cân đối
và hài hoà với nhau
Bạn phải có khả năng vẽ một đường cong bắt đầu
từ điểm A trên vây lưng, từ từ đi vòng qua vây đuôi, rồi tiến tới điểm B trên
vây hậu môn mà không phạm phải phần đuôi nào. Cá như vậy được xem là cân đối.
Tỷ lệ giữa chiều dài đuôi và chiều dài thân
Khi đánh giá hai con HM ở trên, nếu mọi đặc
điểm đều như nhau thì con có vây đuôi lớn hơn hay tỷ lệ lớn hơn được coi như là
đẹp hơn. Như vậy, BlueMoon 1 đẹp hơn BlueMoon 2.
Vây hậu môn
(Trái) Quan sát các cạnh AC, BD của vây hậu
môn xoè ra như rèm cửa khi cá giương vây. Một vây hậu môn rộng có cung CD lớn
hơn AB. (Phải) Con đuôi kép (doubletail) này có chóp vây hậu môn rất hẹp.
(Trái) Cạnh đáy B của vây hậu môn song song với
đường bên A (theo Goettner). (Phải) Cạnh đáy B vây hậu môn của con đuôi kép này
giao với đường bên A tại điểm C.
Vây lưng
(Trái) Cạnh ngoài của vây lưng hướng về phía
trước như ở 1. Rìa ngoài của vây lưng phải liền lạc với vây đuôi như ở 2. Tia
vây phân nhánh phù hợp. (Phải) Vây lưng xoè rộng. Thông thường, cạnh vây lưng nằm
ở vị trí X, khoảng 2/3 chiều dài vây hậu môn. Với vây lưng rộng hơn, cạnh này
phải di chuyển đến vị trí Y.
Những đặc điểm nổi bật của HM là:
3. Các cạnh đuôi thẳng và dài.
4. Góc xoè 180 độ.
Đuôi phải có hình bán nguyệt hay hình chữ D.
Tia vây đuôi - “Công phu lai tạo” của HM
Từ một tia vây phân thành 4 nhánh giúp cho
vây đuôi được chống đỡ tốt hơn.
Đâu là đuôi của HM?
Đặc điểm khó đạt nhất: cạnh đuôi dài và thẳng
Cạnh đuôi hoàn hảo 1 phải thật thẳng. Khi nó
giao với viền cung đuôi 2 thì phải tạo ra một cạnh sắc 3. Chất lượng của cạnh
đuôi phụ thuộc vào hai yếu tố:
1. Nó có thẳng không?
2. Nó có dài không?
Tóm lại, cạnh đuôi có “sắc” hay không?
Hai kiểu phân nhánh của tia vây
(Trái) Tia vây phân nhánh thẳng, hoàn hảo và
mạnh mẽ. Mặt khác, khi cá giương vây, các điểm chót của các tia vây phải làm
thành một vòng cung. (Phải) Khi tia vây phân nhánh, chúng hơi hướng ra phía
ngoài và cạnh đuôi cũng vậy. Cạnh đuôi cong sẽ thẳng lại một khi cá giương vây.
Nhiều nhà lai tạo thích kiểu vây đuôi này.
Ghi chú (VNRD)
Theo Victoria Parnell, có ít nhất 3 yếu tố di
truyền tạo nên đặc điểm halfmoon:
1) Tất cả các tia đuôi phải thẳng và không được
cong hay vẹo.
2) Các tia đuôi phải phân nhánh ít nhất ba lần.
3) Đuôi phải xoè đủ 180 độ.
Dường như là các tia vây và góc xoè bị ảnh hưởng
mạnh từ các yếu tố môi trường. Ngay cả khi cá betta được thừa hưởng đầy đủ các
đặc điểm di truyền cần thiết thì chúng vẫn có thể không phô bày hết khả năng tiềm
tàng bởi vì nước không đạt chất lượng hay kỹ thuật nuôi dưỡng kém.
Phân loại cá Betta Rồng
Betta Dragon (Cá mang vảy rồng) ngày nay đã rất
phát triển về hình dạng và màu sắc, một số màu sắc của dòng Betta Dragon này mà
chúng ta hay gặp :
+ Rồng đỏ (Red Dragon)
Thân cá có các lớp sắc tố màu trắng đục phủ rất
dày bao phủ kín thân và nắp mang có khi lên trên đầu (full), một số có ánh kim
làm nổi bật nền trắng của cá. Các vây lưng, vây đuôi, vây hậu môn (có khi lên tới
vây bơi) đều có màu đỏ với các màng chia đuôi màu trắng ánh kim. 1 con rồng đỏ
đẹp khi các vây của cá mang 1 màu đều như nhau và tách biệt rõ với màu thân cá.
+ Rồng đỏ viền bướm (Red Dragon Butterfly)
+ Rồng cam (Orange Dragon)
Cũng giống như rồng đỏ, cá rồng cam cũng có
các lớp trắng phủ trên thân và vây bơi màu cam, tuy nhiên do đây là giống rất mới,
các nhà lai tạo đang trong quá trình làm ổn định màu cam nên 1 con rồng cam xuất
sắc hiện vẫn còn là mơ ước.
+ Rồng vàng (Gold Dragon)
Rồng vàng căn bản được tạo thành 1 cách nhanh
chóng nhờ gen nr (gen mất đỏ) xuất hiện đồng hợp lặn trong 1 con cá betta rồng
đỏ, người ta có thể tiến hành lai tạo betta rồng đỏ bằng nhiều cách từ những
chú betta rồng có sẵn. Cá betta rồng vàng có màu thân vàng và lớp vảy trắng đục
hay trắng ánh kim rất đẹp, riêng betta rồng vàng và rồng trắng có bộ vây cùng
màu sắc với thân, ở đây cá betta rồng vàng có vây lưng ,đuôi,vây bụng,ngực và
vây hậu môn màu vàng
+ Rồng màu thân dứa (Pineapple Dragon)
Đây cũng là 1 dạng của Betta rồng vàng nhưng
thân vẫn còn nhiễm đen như mắc dứa, nếu lớp vẩy cá dày lên (lớp trắng) thì
chúng ta rất khó phân biệt với rồng vàng tuy nhiên đặc điểm nhận dạng dễ dàng
nhất vẫn là thân sậm đen ở bụng.
+ Rồng trắng (White Dragon)
Cách sắp xếp sắc tố như rồng đỏ và rồng vàng
nhưng khác nhau bởi màu sắc của các vây và kỳ. Các vây lưng, vây đuôi và vây hậu
môn mang màu trắng.
+ Rồng đen (Black Dragon)
Một giống rồng đang rất "hot" rất
được nhiều người săn tìm bởi nét đẹp "lạnh lùng" nhưng sang trọng của
nó. Thân cá có các lớp sắc tố màu trắng đục phủ rất dày bao phủ kín thân và nắp
mang có khi lên trên đầu (full), và trên lớp trắng đó là 1 lớp ánh kim dày màu
tối, đó là nền của màu Black Copper.Điểm khác biệt lớn của rồng đen hiện tại là
các vây lưng, vây đuôi, vây hậu môn đều có màu đen với các màng chia đuôi mang
màu sắc của thân cá. 1 con rồng đen đẹp khi các vây của cá mang 1 màu đen đều
như nhau và tách biệt rõ với màu thân cá.
+ Rồng xanh (Green hay Blue Dragon)
Cách phân bố màu sắc cũng như rồng đỏ và các
loại khác tuy nhiên trên thân cá phía trên lớp trắng đục rất dày lại phủ lên
thêm 1 lớp ánh kim : màu green, turquoise, steel, royal blue... làm cho rồng
xanh thêm nét quyến rũ.Các tia vây màu đỏ nằm xen lẫn các màng vâyi màu xanh ngọc
tạo nên sự hài hòa và tăng thêm nét độc đáo của nó. Một số con có lớp ánh kim
dày phủ lên cả mắt nhìn rất đẹp.
+ Rồng xanh dương viền đen (Black Lace
Dragon)
Đây là một trong những chú cá tham gia trong
quá trình tạo ra rồng đen, Rồng Black lace có thân màu Blue nằm trên lớp trắng
đục dưới vảy và nền đen căn bản của dòng Black Lace, các vây cá viền đen đậm
xung quanh các tia vây màu blue
+ Rồng ánh đồng (Copper Dragon)
Copper Dragon có sự phân bố màu sắc như Black
Dragon nhưng thay vào đó các sắc tố đen ở vây và thân sẽ mang màu đỏ sậm.
+ Rồng ánh đồng hơi mù tạc (Copper Gas
Dragon)
Một cặp gen nr đã làm thay đổi 1 chú Copper
Dragon thành Copper Gas Dragon, thay vì màu đỏ của vây với các tia vây màu
copper thì chú cá này mang màu vàng của màng vây và tia vây mang màu copper
+ Rồng hơi mù tạc (Mustard Gas Dragon)
Gen Mustard Gas tái tổ hợp lặn trong cơ thể 1
con cá Betta rồng làm cho nó có màu Mustard Gas và mang vảy rồng. Lớp sắc tố
màu Blue (hay Green) phủ trên lớp trắng dày trên thân và các màng vây màu vàng
làm cho nó có sự tương phản rõ rệt.
(Sưu tầm)
Phân loại cá betta
Giới thiệu
Phong trào chơi cá betta phát triển mạnh vài năm gần đây kéo theo vô số
người yêu thích và nuôi dưỡng loài cá xinh đẹp này. Vấn đề ở chỗ “cá betta” là
một thế giới vô cùng đa dạng khiến người mới tham gia khó phân biệt hay hiểu rõ
sự quan hệ giữa các dòng và loài cá betta khác nhau. Trong bài viết này, chúng
tôi sẽ giới thiệu sơ lược về đặc điểm của từng dòng hay loài nhằm giúp các bạn
có khái niệm cơ bản về chúng.
Cá betta là gì?
1. Cá betta là gì?
Cá betta hay Betta splendens là loài cá hoang
dã phân bố ở vùng Đông Nam Á bao gồm các nước Thái Lan, Campuchia và Việt Nam.
Ngoài môi trường tự nhiên, chúng cư ngụ trong ruộng lúa, ao, đầm... nói chung
là ở tất cả những vùng nước nông và tĩnh. Nhiệt độ thích hợp đối với cá betta từ
27 đến 30 độ C, nước mềm, có độ pH trung hoà hay hơi acid. Cá đực thường chọn
những vị trí được che chắn tốt như trong các bụi lúa, rong hay bên dưới lá rụng…
để làm tổ bọt và dẫn dụ cá cái đến đẻ trứng. Mỗi đợt sinh sản, cá cái đẻ hàng
trăm trứng, trứng nở sau khoảng 1 ngày. Cá bột mới nở được cá cha chăm sóc trên
tổ bọt thêm khoảng 3 ngày nữa cho đến khi chúng bắt đầu bơi tự do và bước vào đời
sống tự lập.
Thời gian đầu, cá bột ăn các vi sinh vật có sẵn
trong nước; khi đã lớn hơn, chúng bắt đầu ăn bo bo, lăng quăng hay bất cứ sinh
vật nào vừa với miệng của chúng. Những ruộng lúa có nhiều rong rêu hay các ao
bèo là môi trường cung cấp thức ăn dồi dào cho cá betta nên chúng thường được
phát hiện ở những nơi như vậy. Cá trưởng thành sau từ 4 đến 6 tháng tuổi và bắt
đầu sinh sản. Những đợt nước lên vào mùa mưa lũ phát tán cá betta ra những vùng
nước xung quanh và quá trình cứ lập đi lập lại như vậy mãi.
Ngoài môi trường tự nhiên, cá Betta splendens
(tức lia thia hoang dã) thường làm tổ trong các bụi lúa, rong hay bên dưới lá rụng.
2. Cá betta: từ môi trường hoang dã đến với
thế giới cá cảnh
Từ cá betta hoang dã đến cá đá Xiêm
Cá betta là loài có bản năng bảo vệ lãnh thổ
cao độ; cá đực thường cạnh tranh với nhau nhau để giành lấy vị trí làm tổ bọt
thuận lợi nhất. Kỹ năng chiến đấu của chúng được phát triển lên hàng “nghệ thuật”
với các đòn thế hóc hiểm, bay bướm và đa dạng. Những người đầu tiên quan sát thấy
các cuộc đấu nảy lửa như vậy là nông dân làm việc ngoài đồng. Từ hàng trăm năm
nay, cá lia thia tức betta hoang dã được những người nông dân và con em của họ
bắt để đá chơi với nhau vào những lúc rỗi rãi, nông nhàn hay các kỳ lễ hội truyền
thống ở địa phương…
Những hoạt động đá cá như vậy diễn ra ở khắp
nơi. Cụ Vương Hồng Sển từng mô tả các hoạt động đá cá lia thia vào đầu thế kỷ
20 ở tỉnh Sóc Trăng. Tuy nhiên, Thái Lan mới là nơi mà cá betta hoang dã được
thuần dưỡng và tuyển chọn qua nhiều đời để phục vụ cho mục đích đá độ. Trải qua
hàng trăm năm, dòng cá đá thuần dưỡng hình thành và có bề ngoài hoàn toàn khác
biệt so với cá betta hoang dã. Màu ánh kim lan rộng và đồng nhất, đồng thời
kích thước của đầu, thân và gốc đuôi to hơn so với cá hoang dã. Đầu thế kỷ 20,
khi việc thông thương giữa các quốc gia và lục địa phát triển, cá đá thuần dưỡng
hay plakat từ Thái Lan phát tán đi nhiều nơi trên thế giới, trong đó có Việt
Nam. Ở Việt Nam, chúng được gọi là cá đá Xiêm tức giống cá đá du nhập từ Thái
Lan. Thời đó, có lẽ ít người nhận ra rằng đó là giống cá thuần dưỡng lâu đời từ
loài lia thia ruộng mà họ vẫn thấy ngoài đồng lúa, nhưng nhiều người vẫn biết
cách lai chúng với cá lia thia đồng rặt để cải thiện độ bền và kỹ năng chiến đấu.
Từ cá đá Xiêm đến betta cảnh hiện đại
Cá Xiêm đuôi dài là dòng đột biến từ cá đá
Xiêm và được các nhà lai tạo Thái Lan duy trì với mục đích làm cảnh. Nhưng
chính Âu Mỹ mới là mảnh đất thúc đẩy sự phát triển của dòng cá này khi chúng được
nhập vào những nơi đó hồi đầu thế kỷ 20. Những năm 1960, nhà lai tạo người Mỹ
Warren Young lai tạo ra những con betta có đuôi dài hơn so với bình thường gọi
là cá đuôi voan, trong dòng cá của ông còn xuất hiện những con cá đột biến với
đuôi phân làm hai thuỳ gọi là đuôi kép. Sau đó, các dòng cá betta cảnh khác như
delta, superdelta, halfmoon, đuôi tưa, betta khổng lồ và plakat cảnh lần lượt
xuất hiện và làm nên diện mạo đa dạng của betta cảnh hiện đại. Sự đa dạng không
chỉ thể hiện ở dạng vây mà còn ở màu sắc từ xanh dương, xanh ngọc, xanh thép,
cambodian, đỏ, đen, vàng, cam, trắng, đồng, nhị sắc, đa sắc cho đến hoa văn như
bướm, cẩm thạch...
Cá betta, dù là dưới bất kỳ màu sắc hay dạng
vây nào, cũng là một trong số những loài cá cảnh hấp dẫn và dễ nuôi nhất. Nhưng
chính halfmoon mới là dòng cá gây nên một làn sóng hâm mộ cá betta trên toàn thế
giới và kéo dài cho đến tận ngày nay. Quá trình hình thành dòng cá này là một
huyền thoại với trên 30 năm công phu của nhiều nhà lai tạo khác nhau ở hai bờ lục
địa Âu, Mỹ.
Một con halfmoon đỏ cực đẹp (ảnh Haryanto).
Ngày nay, cá betta cảnh hiện đại phát triển mạnh
trên toàn thế giới và ở cả Thái Lan, quê hương của chúng. Chính sự hấp dẫn, đa
dạng và những huyền thoại về cá betta đã tạo ra một “lực hút” khiến ngày càng
có nhiều người quan tâm và nuôi dưỡng loài cá này.
3. Cá betta hoang dã: “tiếng gọi nơi hoang
dã”
Như mô tả ở trên, cá betta ám chỉ loài cá
Betta splendens thuần dưỡng nhưng betta còn là tên của một chi cá: chi Betta. Về
mặt phân loại, chi cá Betta thuộc về nhóm labyrinth. Nhóm này gồm những loài có
cơ quan hô hấp phụ nằm ở phía trên mang và ngay sau mắt gọi là mê lộ
(labyrinth). Mê lộ có nhiều đường rãnh và vô số mao mạch li ti mà qua đó cá có
thể lấy ô-xy trực tiếp từ không khí. Đặc điểm này giúp cá tồn tại trong môi trường
nghèo ô-xy hoặc thậm chí chúng có thể sống sót trong các không gian chật hẹp
như kẽ nứt hay vết chân trâu qua mùa khô hạn.
Theo cách phân loại mới, nhóm labyrinth bao gồm
ba họ cá: họ cá rô Anabantidae, họ cá mùi Helostomatidae và họ cá tai tượng
Osphronemidae. Các loài phân bố chủ yếu ở vùng Đông Nam Á, một ít ở Ấn Độ và
châu Phi. Hiện nay, chi cá Betta được xếp vào họ cá tai tượng Osphronemidae;
tuy nhiên rất nhiều tài liệu chưa cập nhật thông tin này mà vẫn liệt kê chi cá
Betta vào họ cũ Belontiidae như trước đây!
Dưới đây là bảng phân loại các chi thuộc nhóm
labyrinth.
Bộ cá vược Perciformes
Phân bộ Anabantoidei (tức nhóm cá có mê lộ)
Họ cá rô Anabantidae
- Chi cá rô Anabas, Ctenopoma, Sandelia.
Họ cá mùi Helostomatidae
- Chi cá mùi Helostoma.
Họ cá tai tượng Osphronemidae
Phân họ cá rô dẹp Belontiinae
- Chi cá rô dẹp Belontia.
Phân họ cá cờ Macropodinae
- Chi cá lia thia Betta, cá cờ Macropodus, cá
bã trầu Trichopsis, Malpulutta, Parosphromenus, Pseudosphromenus.
Phân họ Luciocephalinae
- Chi cá sặc Trichogaster, cá sặc gấm Colisa,
Ctenops, Luciocephalus, Parasphaerichthys và Sphaerichthys.
Phân họ cá tai tượng Osphroneminae
- Chi cá tai tượng Osphronemus.
Hình giải phẫu mê lộ của một con cá tai tượng.
Năm 2005, các tác giả Tan Heok Hui và Peter
Ng ở Đại học quốc gia Singapore xuất bản một công trình quan trọng về cá betta
“Cá betta hoang dã ở Singapore, Malaysia và Brunei” trong đó họ tái sắp xếp và
phân nhóm chi cá Betta đồng thời xác định thêm 23 loài mới. Năm 2006 các tác giả
lại phát hiện thêm 6 loài mới nữa nâng tổng số loài thuộc chi cá Betta lên đến
gần 70 loài!
Xin lưu ý rằng cá Betta splendens, tức tổ
tiên của cá betta cảnh hiện đại, thuộc về nhóm splendens cùng với 4 loài khác
là Betta imbellis, Betta smaragdina, Betta sp. Mahachai và Betta stiktos. Một
con số rất kiêm tốn so với tổng số các loài hoang dã cùng chi Betta.
Cá betta hoang dã phân hoá và thích nghi với
nhiều môi trường sống khác nhau từ những đầm than bùn có tính acid ở Selangor đếm
vùng nước lợ cửa sông ở Mahachai. Hành vi sinh sản cũng tiến hoá từ làm tổ bọt
thành ấp miệng, điều khiến chúng có thể trú ngụ trong các vùng nước có dòng chảy
nhất định. Dù khác biệt nhưng chúng vẫn luôn có một điểm chung, đó là màu sắc cực
kỳ hấp dẫn.
Hiện nay, bên cạnh phong trào nuôi cá betta cảnh
hiện đại, có một bộ phận những người nuôi cá cảnh yêu thích và nuôi dưỡng cá
betta hoang dã. Việc thuần dưỡng chúng trong hồ cảnh thực sự là một thách thức,
nhất là đối với một số loài cần điều kiện sống đặc biệt, nhưng trong tương lai
khi mà các bí quyết nuôi dưỡng chúng được khám phá và phổ biến, hy vọng người
nuôi cá ở khắp nơi trên thế giới sẽ có cơ hội sở hữu những loài cá xinh đẹp
này.
Tag :
Từ điển Betta
Cá Betta được ưa chuộng trên toàn thế giới?
IBC (Chuyên tổ chức triển lãm cá Betta có phạm
vi toàn thế giới)
Triển lãm của IBC là gì?
Triển lãm của Hiệp hội Betta Quốc tế
(International Betta Congress), thường được gọi là Triển lãm Betta, là trưng
bày lớn về một trong những loài cá đẹp nhất trong thế giới cá cảnh. Mặc dù loài
cá có tên gọi phổ biến bắt nguồn từ trò giải trí ở phương Đông (tức cá đá Xiêm
- Siamese fighting fish), IBC không chấp nhận việc đá cá betta. Do đó, triển
lãm của IBC đơn thuần là một cuộc thi về sắc đẹp. Qua nhiều năm trời, các thành
viên IBC đã cải thiện mạnh mẽ hình dáng và màu sắc của cá qua việc lai tuyển chọn
một cách toàn diện. Cá betta ngày nay là một công trình kỳ diệu về mặt di truyền,
kết quả của nhiều năm trời lao động cật lực bởi người chơi cá ở khắp nơi trên
thế giới. Hệ thống triển lãm và các nguyên tắc đánh giá của IBC được xây dựng dựa
trên những biến thể này.
Giới thiệu cá Halfmoon
Là một trong những loại cá Betta đẹp. Đúng như tên gọi, chúng có những chiếc đuôi to bản, xòe rộng hình bán nguyệt. Chúng khiến bất cứ ai cũng phải siêu lòng ngay từ lần thấy đầu tiên. Cá Halfmoon có rất nhiều loại màu, dưới đây là một vài ví dụ:
Video
Xem thêm: http://www.hocamini.com/gioithieu/Halfmoon
Xem thêm: http://www.hocamini.com/gioithieu/Halfmoon












